Định hướng phát triển ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch - an toàn, công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch vào sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh

09/06/2022

Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Nằm trong quy hoạch vùng Thủ đô Hà Nội, nằm trên quốc lộ 2 có tuyến đường sắt và cao tốc Hà Nội - Lào Cai đi qua, thuộc hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và tuyến hành lang hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và Trung Quốc, đường vành đai IV, vành đai V của Thủ đô Hà Nội, gắn liền với chương trình hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, là cầu nối giữa vùng Trung du miền núi phía Bắc với đồng bằng sông Hồng, gần sân bay quốc tế Nội Bài, qua đường quốc lộ 5 thông với cảng Hải Phòng và trục đường 18 thông với cảng nước sâu Cái Lân... Với vị trí đặc biệt đó, tỉnh Vĩnh Phúc có vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của khu vực và quốc gia, trong đó phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là nhân tố quyết định thực hiện thành công mục tiêu xây dựng nông thôn mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế của tỉnh.

Do đó, dù chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, nhưng nông nghiệp luôn được xác định là ngành kinh tế có vai trò quan trọng: Đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm và thu nhập cho hơn 70% dân cư, là nhân tố quyết định xóa đói, giảm nghèo, góp phần phát triển kinh tế và ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh, nông nghiệp đã và đang giữ vai trò là trụ đỡ cho nền kinh tế của tỉnh nói riêng và kinh tế cả nước nói chung.

Kể từ khi tái lập tỉnh, đặc biệt trong 10 năm - từ năm 2012 đến nay, ngành Nông nghiệp triển khai nhiệm vụ trong điều kiện có nhiều khó khăn, thách thức, chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu, dịch bệnh covid 19, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp, giá cả nguyên liệu đầu vào tăng cao, giá sản phẩm nông nghiệp không ổn định có những thời điểm xuống thấp dưới mức giá thành sản xuất, diện tích đất canh tác manh mún và ngày càng thu hẹp... tuy nhiên, do tích cực ứng dụng, chuyển giao, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp nên sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, đã có bước tiến nhanh và đạt được nhiều thành tựu to lớn, phát triển mạnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng, phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của tỉnh được đưa vào sản xuất, cơ giới hóa được tăng cường áp dụng. Năm 2012 giá trị sản xuất đạt 8.210,3 tỷ đồng, năm 2021 ước đạt 10.928,97 tỷ đồng, tăng 1,33 lần; cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng trồng trọt giảm từ 42,9% năm 2011 xuống khoảng 39% năm năm 2021, chăn nuôi tăng tư 52,4% năm 2011 lên khoảng 54 % năm 2021. Tỷ lệ giống lúa chất lượng đạt trên 75%, đàn bò thịt lai Zebu đạt trên 90%, đàn bò sữa có tỷ lệ máu bò HF trên 90%... các khâu trong sản xuất đã được cơ giới hóa trên diện rộng như: Làm đất bằng máy chiếm khoảng 95% diện tích, thu hoạch lúa bằng máy đạt trên 70%; 100% số hộ nuôi bò sữa đã sử dụng máy vắt sữa, thái cỏ... giúp giảm chi phí nhân công, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Tỷ lệ diện tích sản xuất nông nghiệp được tưới tiết kiệm nước đạt trên 40%; tỷ lệ cơ sở sản xuất chăn nuôi trên địa bàn xử lý chất thải bằng biogas hoặc các giải pháp công nghệ xử lý, sử dụng hiệu quả, sạch đạt trên 70%.

Từ năm 2012 đến nay đã có hơn 24 đề tài khoa học với tổng kinh phí trên 7,03 tỷ đồng được nghiên cứu và ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi để đáp ứng nhu cầu của thị trường và nâng cao hiệu quả sản xuất. Các kỹ thuật về khoa học công nghệ được ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp ở tỉnh như: Áp dụng kỹ thuật thuỷ canh, canh tác trên giá thể không đất; sử dụng cây trồng được sản xuất theo công nghệ nuôi cấy mô; sử dụng chất điều hoà sinh trưởng thực vật trong điều khiển cây trồng; sử dụng các chế phẩm vi sinh; áp dụng IPM, ICM, VietGAP trên cây trồng; ứng dụng biện pháp tưới nhỏ giọt theo công nghệ Israel; sử dụng giống ngô chuyển gen vào sản xuất trên địa bàn tỉnh...; thụ tinh nhân tạo; sử dụng tinh phân biệt giới tính phối giống cho đàn bò sữa, tinh bò BBB; sử dụng hầm Biogas và một số công nghệ tiên tiến (các chế phẩm EM, đệm lót sinh học...); xây dựng chuỗi từ sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi.

Khu nhà kính sản xuất rau mầm, rau thủy canh tại VinEcoTam Đảo

Trên địa bàn tỉnh đã bước đầu hình thành một số khu sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất như: Khu sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC VinEcoTam Đảo; vùng sản xuất thanh long ruột đỏ; vùng sản xuất dưa chuột, bí đỏ, su su, mướp, rau an toàn VietGAP... Những sản phẩm tiêu thụ số lượng lớn mỗi ngày có thể kể đến như: dưa chuột An Hòa - Tam Dương; thanh long ruột đỏ - Lập Thạch; su su - Tam Đảo; bí đỏ - Vĩnh Tường; chuối tiêu hồng, cà chua - Yên Lạc; súp lơ - Lập Thạch; rau ăn lá - Vĩnh Tường… Giá trị của các loại cây trồng này cao hơn 4 lần so với các loại cây trồng truyền thống; xây dựng và thực hiện mô hình các chuỗi liên kết sản xuất, cung cấp sản phẩm chăn nuôi an toàn, sạch với chuỗi liên kết sản xuất, cung cấp sản phẩm thịt lợn, thịt gà, trứng gà an toàn sạch ở Phúc Yên, Lập Thạch, Tam Dương... nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất rau, quả với quy mô lớn tạo ra khối lượng sản phẩm cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh; một số sản phẩm đã xây dựng được thương hiệu như: dưa chuột An Hòa (Tam Dương), su su Tam Đảo, Thanh Long ruột đỏ Lập Thạch, gạo Long Trì... Một số sản phẩm hàng hóa được xuất khẩu, trong đó sản phẩm thanh long ruột đỏ xuất khẩu sang thị trường Malaysia, ớt sang Hàn Quốc, Trung Quốc; Mô hình sản xuất rau quả theo chuỗi giá trị đang từng bước phát triển, xây dựng một số chuỗi liên kết chăn nuôi, giết mổ tiêu thụ thịt lợn, thịt gà an toàn và trứng gà sạch, đảm bảo an toàn thực phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng. Hiện nay, quy mô đàn bò sữa của tỉnh đứng thứ 7 cả nước và đứng thứ 2 ở khu vực đồng bằng sông Hồng, quy mô đàn lợn đứng thứ 18 cả nước và đứng thứ 02 khu vực đồng bằng sông Hồng, sản lượng trứng gia cầm đứng thứ 4 cả nước. Xây dựng nông thôn mới được triển khai thực hiện tích cực. Diện mạo nông thôn có nhiều đổi mới, đời sống vật chất, tinh thần của nông dân được cải thiện và nâng lên. Hiện nay, Vĩnh Phúc là một trong 9 tỉnh của cả nước có 100% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; 04/9 huyện, thành phố được công nhận đạt chuẩn, hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 02 thôn đạt chuẩn thôn dân cư nông thôn mới kiểu mẫu. Thu nhập bình quân đầu người ở khu vự nông thôn đến hết năm 2020 ước đạt trên 50 triệu đồng/người, tăng gần 2 lần so với năm 2015. Kết quả xây dựng nông thôn mới đã đáp ứng ngày càng tốt hơn cho yêu cầu phát triển sản xuất và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Sản xuất nông nghiệp đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của tỉnh và thực sự trở thành cơ sở cho phát triển bền vững nền kinh tế của tỉnh.

Khu sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC VinEcoTam Đảo

Quan điểm, mục tiêu trong thời gian tới của ngành nông nghiệp là phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản phù hợp với chiến lược phát triển nông nghiệp cả nước và cơ cấu lại ngành nông nghiệp của tỉnh trên cơ sở khai thác hiệu quả các nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội và sức mạnh cộng đồng tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm, từng bước nâng cao mức sống của người dân và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản theo hướng sinh thái, hình thành các vùng hàng hóa tập trung quy mô lớn, ưu tiên hỗ trợ các ngành chủ lực có điều kiện thuận lợi về đất đai, nguồn nước sạch, lợi thế về thị trường (lúa chất lượng, rau an toàn, cây ăn quả, cây dược liệu, chăn nuôi lợn thịt, bò sữa, bò thịt, gà thịt, gà đẻ trứng, nuôi thủy sản tập trung thâm canh, trồng rừng gỗ lớn...), tổ chức sản xuất hiện đại theo chuỗi liên kết để đáp ứng nhu cầu về sản phẩm sạch, an toàn cho dân cư trong tỉnh, khách du lịch, thị trường Hà Nội, các tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc và hướng đến xuất khẩu.

Mô hình trồng nho Hạ Đen ở thị trấn Tam Sơn, huyện Sông Lô

Định hướng phát triển của ngành: Về trồng trọt, ưu tiên phát triển các ngành hàng lợi thế, có thị trường tiêu thụ gồm sản xuất lúa chất lượng; rau củ quả an toàn; cây ăn quả (chuối, thanh long); cây dược liệu thành các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, quy mô lớn, tổ chức sản xuất theo chuỗi; đồng thời, khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng VietGAP, nông nghiệp hữu cơ và ứng dụng công nghệ cao. Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, sử dụng giống năng suất và chất lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng dụng cơ giới hóa, thực hiện các quy trình kỹ thuật tiên tiến, biện pháp thâm canh bền vững; giảm sử dụng các loại phân bón vô cơ, hóa chất bảo vệ thực vật; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên đất, nước, phát triển mạnh công nghệ sạch - an toàn, công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa, chuyển đổi đất lúa năng suất và hiệu quả thấp sang các cây trồng khác có thị trường và hiệu quả hơn, hoặc nuôi trồng thủy sản; giảm dần diện tích các cây trồng có hiệu quả kém và thị trường thiếu ổn định như lạc, đậu tương, cây có củ,...

Mô hình trồng nho Hạ Đen ở thị trấn Tam Sơn, huyện Sông Lô

Về chăn nuôi: Phát triển chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hóa chính trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh theo hướng công nghiệp, tập trung, chuyên môn hóa trên cơ sở ứng dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến, năng suất chất lượng cao gắn bảo quản, chế biển với thị trường, bảo vệ môi trường, đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng của nhân dân trong tỉnh và hướng tới xuất khẩu. Tổ chức, cơ cấu lại sản xuất ngành chăn nuôi gắn với thị trường, bảo đảm an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường. Quản lý chăn nuôi theo chuỗi sản phẩm, ngành hàng, truy xuất nguồn gốc, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và vệ sinh an toàn thực phẩm. Tập trung phát triển sản phẩm chăn nuôi có lợi thế và tăng giá trị gia tăng như: lợn, gia cầm, bò sữa, bò thịt; tạo sự chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ cụ thể, phù hợp để khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển chăn nuôi theo hướng tăng dần quy mô, chuyển sang phương thức nuôi quy mô lớn, công nghiệp, bán công nghiệp.

Về thủy sản: Tập trung đầu tư sản xuất giống thủy sản, nâng cao chất lượng con giống truyền thống, nghiên cứu giống đặc sản, xây dựng thương hiệu cá giống tỉnh Vĩnh Phúc. Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hình thức thâm canh, công nghiệp, giảm dần diện tích nuôi quảng canh cải tiến; hình thành các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung có quy mô diện tích lớn, áp dụng thực hành nuôi tốt (GAP, VietGAP...). Xây dựng các mô hình liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ gắn với truy xuất nguồn gốc và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tăng cường áp dụng khoa học công nghệ vào nuôi trồng thủy sản theo từng loại hình nuôi để tăng năng suất, tạo sản phẩm có chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; khai thác thủy sản hợp lý; chọn lọc, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản trên các hồ, sông, suối.

Về lâm nghiệp: Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng phù hợp với chiến lược phát triển lâm nghiệp của Quốc gia và của vùng; phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2030, quy hoạch sử dụng đất đai và các quy hoạch chuyên ngành của tỉnh đã dược phê duyệt. Phát triển đồng bộ cả 3 loại rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất). Tăng cường trồng rừng, chuyển đổi rừng sản xuất gỗ nhỏ sang phát triển cây gỗ lớn, cây dược liệu, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Đưa kinh tế lâm nghiệp phát triển theo hướng đa mục tiêu, hiệu quả, bền vững và hỗ trợ các ngành kinh tế khác phát triển.

Nông nghiệp là vấn đề rất cần quan tâm vì “phi nông bất ổn”, “nông suy bách nghề bại”, tuy là ngành chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế. Vì vậy, trong thời gian tới, việc tăng cường đầu tư khoa học công nghệ, đặc biệt là ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch - an toàn, công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch trong ngành nông nghiệp là hết sức cần thiết, quan trọng, cần được coi là “chìa khóa” để khai thác tiềm năng, nâng cao hiệu quả, tạo đột phá trong phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh nông sản; bảo vệ môi trường, sinh thái; nâng cao thu nhập cho người dân ở khu vực nông thôn; bảo đảm an ninh lương thực và an ninh quốc phòng cho cả nước nói chung và cho tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng./.

Trí Công

 

Các tin đã đưa ngày: